Một số loại sâu bệnh hại cây trong vườn và biện pháp phòng trừ

0
17683

1. SÂU BỆNH HẠI CÂY ĂN QUẢ TRONG VƯỜN GIA ĐÌNH

Các loại cây ăn quả là các cây thường bị nhiễm nhiều loại sâu bệnh gây hại. Mức độ bị hại, thời gian sâu bệnh gây hại thay đổi rất nhiều tuỳ thuộc vào giống cây, vào kỹ thuật canh tác và vào các điều kiện sinh thái của vùng trồng.

Phát hiện các loài gây hại cũng như tiến hành các biện pháp trừ chúng trên các loài cây ăn quả có những đặc điểm riêng khác với những công việc này khi được tiến hành trên các loài cây lương thực như lúa, và các loại cây trồng hàng năm khác.

Những đặc điểm sau đây cần chú ý:

– Cây ăn quả có sản phẩm là quả. Đó là loại thực phẩm được dùng tươi hoặc thông qua chế biến đều yêu cầu phải sạch, không có các dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật cũng như các mầm mống, tàn dư của sâu bệnh.

– Cây ăn quả thường được trồng trong vườn nhà hay trong vườn cây gần nhà. Vì vậy, môi trường trong vườn cần sạch sẽ, không bị ô nhiễm vì nó rất dễ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, vật nuôi.

– Hệ sinh thái vườn cây ăn quả là HST tương đối ổn định (ổn định hơn HST ruộng) vì các mối quan hệ giữa các loài vi sinh vật thường tương đối bền vững.

Do đó công tác phòng trừ sâu bệnh trong các vườn cây ăn quả cần được tiến hành trên cơ sở một số nguyên tắc sau:

– Sử dụng các giống chống chịu sâu bệnh, gốc ghép chống chịu sâu bệnh. Thâm canh tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, bằng cách đó nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh của cây.

– Bảo vệ và phát huy các loài thiên địch, thu hút các loài thiên địch, tạo điều kiện cho chúng cư trú và phát triển.

Tích cực sử dụng các biện pháp đấu tranh sinh học như: thả gà ra vườn cho chúng nhặt sâu, làm chỗ đặt thức ăn thu hút chim sâu và các loài chim khác vào cư trú trong vườn.

– Giữ gìn vệ sinh vườn cây, kịp thời thu gom lá, hoa, quả rụng, cành gãy… Hàng năm tiến hành quét nước vôi hoặc thuốc Boócđô vào gốc cây.

– Thường xuyên quan sát, theo dõi diễn biến và phát sinh sâu bệnh trên cây. Hàng ngày ngắt các lá, quả bị sâu bệnh, bắt giết sâu xuất hiện trên cây.

– Hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng các loại thuốc BVTV. Chỉ phun khi thực sự cần thiết.

2. NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT (BVTV)

2.1. Định nghĩa:

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là những hợp chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hoá chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại

2.2. Các nhóm thuốc:

– Thuốc trừ bệnh – Thuốc trừ nhện

– Thuốc trừ sâu – Thuốc trừ tuyến trùng

– Thuốc trừ cỏ – Thuốc điều hoà sinh trưởng

– Thuốc trừ ốc – Thuốc trừ

2.3. Các dạng thuốc BVTV:

Dạng thuốc Chữ viết tắt Ghi chú
Nhũ dầu ND, EC Thuốc ở thể lỏng, trong suốt, dễ bắt lửa cháy và nổ
Dung dịch DD, SL, L, AS Hoà tan đều trong nước, không chứa chất hoá sữa
Bột hoà nước BTN, WP, DF, WDG Bột mịn, phân tán trong nước thành dung dịch huyền phù
Huyền phù FL, FC, SC Lắc đều trước khi sử dụng
Hạt H, G, GR Chủ yếu rãi vào đất
Dạng sữa EW Lắc đều trước khi sử dụng
Thuốc phun bột D, BR Dạng bột mịn, không tan trong nước

2.4. Cách tác động của thuốc:

a) Thuốc trừ sâu:

– Tiếp xúc: Thuốc tác động qua da

– Vị độc: Thuốc tác động qua miệng

– Xông hơi: Thuốc tác động qua đường hô hấp

– Nội hấp hay lưu dẫn: Thuốc thấm vào trong tế bào và xâm nhập vào hệ thống mạch dẫn trong cây. Sâu chích hút hoặc ăn phần lá, vỏ cây có phun thuốc rồi chết.

– Thấm sâu: Thuốc thấm vào mô cây và diệt những côn trùng sống ẩn dưới những phần phun thuốc.

Ngoài ra còn có một số thuốc có tính xua đuổi hoặc gây ngán ăn đối với côn trùng.

* Thuốc trừ bệnh:

– Tiếp xúc: Tiêu diệt nấm bệnh nơi tiếp xúc với thuốc và ngăn chặn sự xâm nhiễm tiếp tục của nấm bệnh.

– Nội hấp (lưu dẫn): Thuốc xâm nhập và di chuyển trong cây nhằm tiêu diệt nấm bệnh trong cây trồng.

b) Thuốc trừ cỏ:

– Tiếp xúc: Thuốc hủy diệt các mô cây cỏ tiếp xúc trực tiếp với thuốc

– Nội hấp hay lưu dẫn: Thuốc được cỏ hấp thu và di chuyển đến các bộ phận làm thay đổi trạng thái sinh học của cỏ.

– Thuốc chọn lọc: Diệt một số loài cỏ dại nhưng không hại đến cây trồng.

– Thuốc không chọn lọc: Diệt cả cỏ dại lẫn cây trồng mà nó tiếp xúc.

– Thuốc tiền nảy mầm: Sử dụng khi cỏ chưa mọc thành cây.

– Thuốc hậu nảy mầm sớm: Diệt cỏ từ khi cỏ sắp mọc, đang mọc và đã mọc (2 lá trở lại).

– Thuốc hậu nảy mầm: Sử dụng khi cỏ đã mọc thành cây (trên 2 lá, đã có lá thật).

3. SÂU BỆNH HẠI CÂY CÓ MÚI

3.1. Bệnh chảy gôm (Phytophthora parasitica và P. citropthora):

Hay còn gọi là bệnh chảy nhựa, nấm gây ra bệnh thối gốc và lở cổ rễ ở vườn ươm.

a) Triệu chứng:

Bệnh chảy nhựa gây thối cục bộ ở phần vỏ gần gốc và có thể lan rộng ra toàn cây. Bệnh thể hiện với đặc trưng là chảy nhựa cây, giọt gôm (nhựa) hoà tan được trong nước và có thể bị hoà tan bởi mưa to.

Nấm xâm nhập qua vết thương, vết nứt ở vỏ cây sau đó xâm nhập vào mô tế bào mạch dẫn gây ra sự hoại tử và chảy gôm ở mặt ngoài vỏ.

Cây nhiễm nặng lá xanh nhạt, gân vàng; cây bị bệnh có thể bị tróc một khoanh vỏ dẫn đến suy thoái từng phần của tán, cành khô, lộc mọc ngắn

b) Đặc điểm phát sinh, phát triển:

2 loại nấm này tồn tại trong đất và phát triển trong điều kiện ẩm ướt. Thời tiết ẩm ướt kéo dài, mưa dầm giúp nấm lây lan và có thể gây nên sự bùng phát bệnh.

c) Biện pháp phòng trừ:

– Tốt nhất là chọn gốc chống bệnh

– Tránh làm thân cây bị thương, bị nứt nẻ

– Lau sạch nhựa (nạo khoét mô bị bệnh) sau đó dùng Boócđô (10%), Ridomil (0,3%), Aliette (0,3%), Casuran… quét hỗn hợp quanh gốc, nếu có thể nên bôi thuốc cùng chất dính không thấm nước (Vazơlin, Paraphin). Nên bôi nhựa đường trực tiếp vào vết bệnh sau đó.

3.2. Bệnh vàng lá cam (Greening):

Là bệnh rất phổ biến và tàn phá mạnh các vùng trồng cam ở nước ta, còn có tên gọi là bệnh Greening, bệnh Huanglungbin, vàng lá chè…Cây bệnh không có năng suất và bị tàn lụi dần.

a) Triệu chứng:

Bệnh do Liberobacter asiaticum gây ra, lây nhiễm từ giai đoạn vườn ươm. Bề mặt lá bệnh biến vàng loang lổ hoặc phiến lá vàng nhưng gân lá thì xanh. Bệnh ban đầu xuất hiện trên 1 số lá non sau đó lan dần ra toàn tán, rồi toàn cây. ở đọt non thấy rõ triệu chứng trong khi những phần còn lại thì vẫn thấy bình thường. Cây bị bệnh lùn nhỏ, tán lá không đều, lá nhỏ và có thể bị rụng sớm, lá già cũng biến vàng, cành khô, cây bị tàn lụi. Trên cành cây bị bệnh nặng, quả nhỏ, tâm lệch, hạt có màu nâu và bị lép, quả chua, tép khô.

Triệu chứng giống như thiếu Fe, Zn, Bo, Mg…

b) Đặc điểm phát sinh, phát triển:

Bệnh lan truyền theo 2 cách: Chiết ghép cây do cành ghép từ cây bị bệnh và qua môi giới là rầy chổng cánhDiaphorina citri trong suốt thời gian hình thành lá non, lộc non.

c) Biện pháp phòng trừ:

– Áp dụng các biện pháp phòng trừ rầy chổng cánh một cách tích cực vào 2 cao điểm xuất hiện rầy chổng cánh.

– Bón phân đầy đủ, tạo điều kiện cho cây phát triển tốt.

– Dùng giống sạch bệnh. Chọn cành ghép kỹ lưỡng. Lấy mắt ghép từ các cây mẹ không bị bệnh. Dùng các cây gốc ghép kháng bệnh Greening.

– Khi phát hiện cây bệnh phải kịp thời nhổ bỏ và thiêu huỷ.

– Dùng thuốc trừ Rầy chổng cánh: Selecron (0,2%); Vifel (0,2%); Viphensa (0,2%)…

3.3. Rầy chổng cánh (Diaphorina citri):

Phòng trừ Rầy là biện pháp phòng trừ bệnh Greening hiệu quả nhất và cực kỳ quan trọng.

a) Triệu chứng:

Chích hút lộc non, nếu mật độ cao sẽ làm lá và chồi non dị dạng. Nguy hiểm nhất là truyền bệnh Greening từ cây bệnh tới cây khoẻ, làm cây tàn lụi.

b) Đặc điểm phát sinh, phát triển:

Rầy hoạt động từ tháng 2 tới tháng 11, 1 năm có khoảng 10 lứa, chích hút lộc non của cây: Lộc xuân (T1-2), lộc hè, lộc thu và lộc đông

c) Biện pháp phòng trừ:

– Thực hiện vệ sinh đồng ruộng một cách đồng bộ

với phòng trừ các loài sâu bệnh hại khác: rệp, sâu vẽ bùa…

– Dùng thuốc trừ: Selecron (0,2%); Vifel (0,2%); Viphensa (0,2%)…

3.4. Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella):

Là một trong những loại sâu phổ biến nhất gây hại trên cây có múi, chủ yếu phá hại ở thời kỳ vườn ươm và trong thời gian 3-4 năm đầu khi cây mới trồng.

a) Triệu chứng:

Sâu non dài khoảng 3mm, bướm sâu vẽ bùa có sải cánh khoảng 4mm, đẻ trứng dưới mặt lá non, búp non. ấu trùng xâm nhập vào dưới biểu bì và ăn thịt lá, các đường rãnh thường chứa phân màu thẫm; lá bị gây hại càng ngày càng bị biến dạng co rúm lại, vặn vẹo, nhỏ đi và cuối cùng là bị khô đi, dẫn tới cây phát triển chậm. Sâu non nhỏ, màu trắng và thường nằm ở cuối các đường đục trong lá. Mỗi bướm cái có thể đẻ 40-120 trứng, bướm chỉ đẻ 1 trứng/1 lá non.

b) Đặc điểm phát sinh, phát triển:

Bướm sâu vẽ bùa có thể đẻ tới 12 lứa/năm. Ở miền Bắc sâu hoạt động chủ yếu trên lộc hè và lộc thu chính vụ (phá hại mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 10). ậ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sâu thường phá hại mạnh vào đầu và cuối mùa mưa. Sâu chủ yếu ở những cây dưới 5 năm tuổi.

c) Biện pháp phòng trừ:

– Áp dụng các biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây ngay từ nhỏ.

– Cắt bỏ và tiêu huỷ ngay các lá bị sâu hại

– Sử dụng thiên địch là ong kí sinh.

– Tiến hành phun thuốc vào thời điểm xuất hiện triệu chứng đầu tiên và ngay sau khi có đợt lộc non (1-2 lần).

– Có thể sử dụng các loại thuốc sau: Selecron 500EC/ND; Nicotex; Decid 2. 5EC; Padan 95SP…

Nếu có thể nên sử dụng thuốc Caltex-Oil (D-C-Tron Plus) tiêu diệt côn trùng nhưng vẫn bảo vệ được thiên địch.

3.5. cành (Chelidonium argentatum, Nađezhiella cantorri, Anoplophora sp):

a) Triệu chứng:

Sâu non đục lỗ vào trong thân gỗ, tạo thành đường hầm ngày càng lớn theo sự phát triển của nó, phá huỷ phần giác gỗ. Lỗ đục có thể tròn hay elíp. ở chỗ sâu đục, cây chảy nhựa và một số mùn gỗ trắng rơi ra ngoài từ các lỗ đục. Mức độ phá hại có thể nhận biết qua lượng mùn cưa do sâu non đẩy ra ngoài. Cành bị sâu đục khô héo và chết.

Sâu đục thân phá hại cây từ 2–10 năm tuổi.

b) Đặc điểm phát sinh, phát triển:

Sâu chỉ có 1 lứa trong năm, xuất hiện chủ yếu (đẻ rộ) trong thời gian tháng 5, 8, 9. Con cái đẻ trứng trên thân cây hoặc cành, thường là những vết nứt của vỏ. Sâu non có màu trắng sữa, dài tới 60mm, không rõ chân, phía trước to hơn phía sau. Bọ trưởng thành là một loài xén tóc có màu nâu xám hoặc màu lục ánh bạc. Bọ trưởng thành rất ít gây hại, đẻ trứng vào nách cành nhỏ cỡ 66 mm, mỗi cành 1-2 trứng. Trứng hình vảy ốc, màu vàng nhạt giống hạt ớt.

Nhộng hình thành từ tháng 3-tháng 5. Vòng đời của sâu: Trưởng thành (4-5 ngày); trứng (8-13 ngày); sâu non (9 tháng); nhộng (1-1,5 tháng).

Sâu non sau khi nở đục ngay vào trong cành rồi đục xuống thân, gây hại nghiêm trọng cho cam từ 2 – 10 tuổi, hại từ 20 – 100 số cành. Một cây có thể bị tới 50 sâu đục phá huỷ phần thân gỗ làm cây bị khô héo cành và chết.

c) Biện pháp phòng trừ:

– Bắt bằng tay lúc trưởng thành ra rộ (tháng 5)

– Dùng gai mây luồn vào lỗ đục để bắt và giết sâu non.

– Cắt cành mới héo từ dưới lỗ đục mới nhất 20 cm đưa ra ngoài đốt.

– Khi sâu non đã lớn, bịt kín lỗ không cho sâu trưởng thành chui ra ngoài.

– Phun thuốc trừ sâu: Sau khi phát hiện ra lỗ đục, dùng xi lanh tiêm thuốc sâu vào lỗ đục bằng các thuốc như: Supracide (0,5%); Selecron (0,5%); Padan (0,5%); Sherpa (0,1%)…

3.6. Ruồi vàng đục quả (Dacus dorsalis Hendel):

Có 2 loài gây hại nặng và phổ biến nhất là Dacus dorsalis và Ceratitis capitata. Trong vài năm gần đây chúng gây hại tới >50% sản phẩm thu hoạch.

a) Triệu chứng:

Trên quả bị hại có thể quan sát thấy những lỗ nhỏ khoảng 1mm. Sâu non đào lỗ và chui vào trong tép, thường có giọt gôm nhỏ từ trong lỗ chảy ra. Quả bị đục thường nhiễm nấm bán ký sinh, vết bệnh bắt đầu thối và biến nâu, thịt quả thối rữa và quả rụng xuống.

b) Đặc điểm phát sinh, phát triển:

Ruồi có thân dài 7 mm (Dacus dorsalis), 4-5 mm (Ceratitis capitata), thân có màu nâu chân vàng, ngực đỏ cánh không màu hoặc có nhiều đốm. Có 4-5 lứa/năm.

Ruồi cái đục vỏ quả đang chín hoặc chín đẻ trứng, giòi khi nở có màu trắng dài khoảng 1mm, lớn lên có màu vàng, sau khi nở giòi đào sâu thẳng vào tép quả sinh sống khoảng 10-20 ngày trước khi quả thối rụng xuống đất, giòi chui ra khỏi quả và hoá nhộng trong đất.

Ruồi cũng gây hại trên xoài, lê, đu đủ, sung…

c) Biện pháp phòng trừ:

– Dùng túi nilon hoặc túi lưới bọc quả lại có thể chống ruồi vàng và 1 số sâu khác.

– Quả chín không để lâu trên cây, cần thu hái nhanh gọn.

– Thu gom các quả rụng, chôn sâu vào đất xa vườn cây.

– Xới đất quanh gốc để diệt nhộng.

– Dùng bẫy bả diệt trưởng thành: là phương pháp rất dễ làm, dùng hỗn hợp 5ml mật ong (đường + dấm) + 0,1-0,2% thuốc Dipterex (Vizubon) trong 1lít nước, đổ vào chai nhựa đã cắt đầu rồi buộc lên cành cây (1 bẫy/cây), có thể bỏ thêm vài lát cam mỏng để tăng thu hút.

– Dùng thuốc hoá học: 2-3 tuần trước khi thu hoạch quả có thể phun thuốc để diệt ruồi như: Dipterex, Sherpa…

3.7. Ngài sâu đục quả (Ophideres sp):

a) Triệu chứng:

Quả chín thường dễ bị chích hút nhưng quả xanh cũng bị hại. trên vỏ quả có thể có nhiều lỗ đục, có trường hợp có đến 40-50 lỗ đục. Quả bị đục thường bị nhiễm nấm bán ký sinh rồi rụng, dùng tay bóp mạnh sẽ thấy dịch quả phụt ra từ các lỗ đục.

b) Đặc điểm phát sinh, phát triển:

Xuất hiện 2-4 lứa trong năm, bướm chủ yếu xuất hiện vào mùa hè và mùa thu khi quả chín. Ngài có thân dài 3-4mm, cánh trước có màu nâu, cánh sau màu vàng với 2 vệt đen to hình vòng cung. Là loài ngài đêm nên thường gây hại chủ yếu và đẻ trứng vào ban đêm.

c) Biện pháp phòng trừ:

– Dùng túi nilon hoặc túi lưới bọc quả lại có thể chống ruồi vàng và 1 số sâu khác.

– Quả chín không để lâu trên cây, cần thu hái nhanh gọn.

– Thu gom các quả rụng, chôn sâu vào đất xa vườn cây.

– Thu gom và đốt lá khô vào ban đêm đuổi ngài bay đi nơi khác.

– Dùng bẫy đèn bắt ngài kết hợp với dùng chậu bả trong vườn thu hút bướm đến hút nước bả (nước quả cam + đường + thuốc sâu) như: Methyl parathion, Azodrin…

– Mùa quả chín dùng Diazinon phun vào ban đêm.

3.8. Rệp sáp (Pseudococcus sp):

a) Đặc điểm và triệu chứng:

Sinh sống gây hại ở chùm quả, mặt dưới lá, cành tiêu và ngay cả ở dưới rễ. Chích hút nhựa làm chùm quả héo rụng non và tạo điều kiện, môi trường cho nấm muội phát triển làm đen vỏ quả, mặt lá, ảnh hưởng đến quang hợp.

Sống thành ổ, trứng nở rệp non trên mình chưa có sáp trắng di động rất nhanh tìm nơi sinh sống cố định (chùm quả, cuống lá…) sau vài lần lột xác trên mình phủ lớp sáp bông trắng do rệp tiết ra từ các hạch, sáp tiết ra ngày càng nhiều phủ kín rệp và cả ổ rệp. Chính lớp sáp không thấm nước này bảo vệ rệp chống lại ngoại cảnh bất lợi cũng như thuốc trừ sâu.

Rệp sáp có loài kiến cộng sinh bằng cách kiến đen tha rệp từ nơi này sang nơi khác, từ cây này sang cây khác mỗi khi chỗ rệp đang chích hút đã cạn kiệt nhựa. Ngược lại, trong chất bài tiết của rệp có chứa nhiều chất đường mật làm thức ăn cho kiến.

Rệp sáp cùng với rệp muội đều phát sinh phát triển mạnh trong mùa nóng và đầu mùa mưa (nắng mưa bất thường).

b) Biện pháp phòng trừ:

Như đã nói ở trên, do đây là một loài côn trùng đa ký chủ, vì thế việc phòng trừ chúng không phải lúc nào cũng thu được kết quả mong muốn, do chúng thường xuyên có mặt trên những loại cây trồng khác nhau trong vườn.

Để phòng trị rệp sáp nên áp dụng nhiều biện pháp sau đây:

– Không nên trồng với mật độ quá dày để vườn luôn được thông thoáng.

– Vệ sinh vườn tược thường xuyên, cắt tỉa bỏ những cành bị sâu bệnh, cành nằm khuất trong tán… để vườn luôn thông thoáng. Chăm sóc chu đáo để cây sinh trưởng và phát triển tốt, có sức chống đỡ với rệp.

– Dọn sạch cỏ rác, lá cây tủ mục xung quanh gốc để phá vỡ nơi cư trú của kiến, nếu thấy xung quanh gốc có nhiều kiến có thể dùng thuốc Padan, Basudin hoặc Regent hạt rải xung quanh gốc hoặc phun thuốc trừ sâu để diệt kiến.

– Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện và phun thuốc diệt trừ rệp kịp thời nhất là ở giai đoạn cây đang ra hoa, quả non. Có thể sử dụng các loại thuốc như: Applaud 10WP; Supracid40EC/ND; Suprathion 40EC; dầu khoáng DC-Tron Plus 98,8EC; Bitox 40EC/50EC; Butyl 10WP; Bian 40 EC; Bassan 50EC; Decis; Trebon… ở giai đoạn quả già sắp chín nếu có phun thuốc phải chú ý đảm bảo thời gian cách ly của thuốc để giữ an toàn cho người sử dụng. Nên đọc kỹ hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất in trên bao bì. Khi phun thuốc cũng nên phun thuốc trên những loại cây ăn quả khác trong vườn.

4. SÂU BỆNH HẠI TÁO

Vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8 khi phát hiện có sâu cắn lá, sâu cuốn lá hoặc nhện đỏ, phải tiến hành phun thuốc Wofatox hoặc những loại thuốc đặc trị khác, pha loãng theo tỉ lệ 0,1%. Tốt nhất là phun định kỳ 15 ngày/lần. Trước khi táo ra hoa rộ khoảng tháng 8, 9 dù không có sâu cũng nên phun thuốc đề phòng sâu đục quả non.

Trong thời gian táo ra hoa rộ nên hạn chế phun thuốc để tránh hiện tượng rụng hoa. Khi táo có quả non nếu phát hiện sớm có sâu đcụ quả thì có thể phun thuốc Bi58 pha loãng.

Trong tháng 6 – 7 xén tóc thường đẻ trứng vào thân cây và sâu non gặm vỏ tạo thành đường xoáy trôn ốc xung quanh thân cây cắt đứt con đường vận chuyển nhựa từ trên xuống làm cây bị vàng và có khi bị chết. Cách trừ chính là dùng mũi dao sắc rạch theo đường sâu gặm mà bắt sâu non rồi dùng Wofatox pha với tỉ lệ 0,2% bôi vào chỗ bị gặm. Để đề phòng loại sâu này hàng năm khi đốn cây dùng 100g Basudin hoà vào trong 10 lít nước trộn với phân bò hoặc đất sét quét lên thân cây từ mặt đất lên cao đến 1m. Không nên trộn với vôi vì sẽ làm cho thuốc mất hiệu lực. Khi phát hiện có cành bị héo đột ngột phải nghĩ ngay tới sâu đục thân cành, cách phong trừ chính là kiểm tra thường xuyên, cắt bỏ kịp thời những cành bị sâu và tiêu diệt sâu non.

Bệnh hại đối với táo hiện nay sơ bộ mới phát hiện 2 loại là: Bệnh phấn trắng thường phát sinh phát triển trên lá non khi ẩm độ không khí cao (>85%) và nhiệt độ thấp (<20°C). Hiện nay tác hại của bệnh này không lớn vì mùa phát sinh bệnh thì cây đang ở thời kỳ nuôi quả, cành lá già ít bị bệnh. Biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng chủ yếu là cắt tỉa hết những lá bị bệnh. Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là không nên ghép muộn sau tháng 9 và đối với cây trồng ngoài sản xuất thì không nên đốn cành quá sớm vì cành lá non nảy lên khi gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp sẽ dễ bị nhiễm bệnh.

Đáng chú ý là bệnh thối quả thường phát sinh phát triển vào thời kỳ quả già sắp chín. Quả bị thối rất nhanh, trong vòng một tuần lễ có thể bị thối hết quả trên cây. Có 2 loại là:

+ Bệnh thối nhũn: Làm quả thâm đen, ủng nước có thể do vi khuẩn Erwinia gây nên. Và bệnh héo quả làm quả nhăn nheo hơi khô, trông như quả bị mất nước nhanh , có thể do nấm Phytophthora cactocum gây nên.

+ Bệnh thối quả: gây tác hại lớn trong sản xuất. Hiện nay chưa có biện pháp triệt để tuy nhiên muốn hạn chế bệnh phát triển cần lưu ý là trong thời kỳ táo có quả nên thường xuyên cắt tỉa những cành lá vô hiệu và quả sâu, héo nhăn nheo để làm cho tán cây thoáng gió và hứng được nhiều ánh sáng.

5. SÂU BỆNH HẠI HỒNG XIÊM

Sâu đục quả (alophila sp. )

Sâu đục quả được xem là sâu hại nguy hiểm nhất trên hồng xiêm. sâu có thể làm giảm 70 – 80% năng suất, cá biệt có những vườn ở Cần Thơ có đến 100% số quả bị sâu gây hại.

Sâu hại từ lúc quả nhỏ (đường kính quả 1-1,2cm) cho đến lúc thu hoạch, sâu hại mạnh nhất từ lúc quả 3-4 tháng tuổi trở đi. Vị trí đục lỗ thường là chỗ tiếp giáp giữa các quả với nhau. Sau khi chui vào trong quả sâu đục ruột quả thành những đường hầm tương đối rộng rồi ở luôn trong đó. Có con chỉ tạm trú trong ruột một thời gian ngắn rồi lại chui ra ngoài đục phá quả khác. Một con sâu có thể gây hại nhiều quả trên 1 chùm. Trong một quả thường chỉ có một con sâu, song có quả có đến 2, 3 hoặc 4 con.

Ở các tỉnh phía Nam sâu thường gây hại trong các tháng mùa khô đặc biệt là tháng 1, 2, 3. Những vườn hồng xiêm già cỗi, những vườn ít được chăm sóc… là những vườn sâu gây hại nặng hơn.

Biện pháp phòng trừ:

– Định kỳ cắt bỏ cành già, cành khuất trong tán, cành sâu bệnh tạo cho vườn cây thông thoáng, hạn chế nơi trú ẩn của sâu trưởng thành.

– Thu gom và tiêu huỷ những quả bị sâu hại còn sót lại trong vườn.

– Những vườn đã quá già cỗi cho năng suất và hiệu quả tương đối thấp nên phá bỏ lập vườn mới.

– Kiến hôi (Dolichodrus thoracicus) là loại kiến có khả năng khống chế mật độ của sâu, vì vậy nên huỷ và nuôi kiến hôi trong vườn.

– Có thể dùng các loại thuốc trừ sâu như Sumicidin 10EC hoặc 25EC; First 20EC; Sumicombi 30EC; Bian 40EC; Sevin… Liều lượng và cách sử dụng thuốc tuỳ theo hướng dẫn của người sản xuất có in trên bao bì.

Chú ý bảo đảm thời gian cách ly của thuốc để tránh gây độc hại cho người ăn.

Ngoài sâu đục quả thì Hồng xiêm còn bị một số loài sâu khác gây hại là: Sâu đục cành, rệp hại hồng xiêm, ruồi đục quả, ngài hại lá-hoa, bệnh đốm lá-thân-cành.

6. SÂU BỆNH HẠI NHÃN VẢI

6.1. Sâu đục thân nhãn vải (Aristobia testudo):

a) Triệu chứng:

Sâu non đục vào thân cây, hướng về phía gốc. Trên miệng lỗ đục thường có phân sâu đùn ra ngoài. Đến tháng 6 năm sau sâu non hoá nhộng và tự đục lỗ chui ra ngoài. Những cây, cành bị sâu đục thân sẽ còi cọc kém phát triển, lá nhỏ bị vàng hơn, cây cho năng suất quả kém, gây chết cành thậm chí là chết cả cây.

b) Đặc điểm phát sinh, phát triển:

Nhộng hoá trưởng thành vào tháng 6-7, sau khi giao phối, con cái đẻ trứng vào các kẽ vỏ cây. Trưởng thành dài 30-33mm, phần đầu ngực và bụng có màu đen, miệng nhai phát triển, lưng có màu vàng đậm, vân đen chia cánh thành hình mai rùa.

Sâu non có màu trắng ngà, đầu có màu đen, có miệng nhai rất phát triển.

c) Biện pháp phòng trừ:

– Phát hiện kịp thời các lỗ sâu đục thân và phòng trừ kịp thời.

– Bắt bằng tay lúc trưởng thành ra rộ (tháng 5).

– Dùng gai mây luồn vào lỗ đục để bắt và giết sâu non.

– Cắt cành mới héo từ dưới lỗ đục mới nhất 20 cm đưa ra ngoài đốt.

– Khi sâu non đã lớn, bịt kín lỗ không cho sâu trưởng thành chui ra ngoài.

– Phun thuốc trừ sâu: Sau khi phát hiện ra lỗ đục, dùng xi lanh tiêm thuốc sâu vào lỗ đục bằng các thuốc như: Supracide (0,5%); Selecron (0,5%); Padan (0,5%); Sherpa (0,1%)…

6.2. Bọ xít hại nhãn vải (Tessaratoma papillosa Drury):

a) Triệu chứng:

Sâu non và sâu trưởng thành của bọ xít vải đều hại cây. Chúng chích hút dinh dưỡng ở các chồi non, quả non, gây ra hiện tượng hoa, rụng quả.

b) Đặc điểm phát sinh, phát triển:

Là loài sâu hại biến thái không hoàn toàn, có 3 pha phát triển là trứng-sâu non và trưởng thành. Sâu trưởng thành sống, chích hút cây và qua đông trên nhãn vải hoặc tránh rét ở và các cây khác ven bờ sông, bờ suối. Khi đến mùa xuân, thời tiết ấm áp vải nhãn ra lộc, bọ xít trưởng thành tập trung về nhãn vải giao phối và đẻ trứng. Bọ xít trưởng thành bắt đầu đẻ trứng vào giữa tháng 3, chúng thường đẻ vào buổi sáng. Trứng đẻ ở mặt sau của lá, đôi khi đẻ ở chùm hoa, mỗi ổ từ 13-14 quả. Mỗi con cái đẻ được 64-68 quả. Trứng mới đẻ có màu xanh lục, khi gần nở chuyển sang hồng-đen. Thời gian trứng từ 11-15 ngày tuỳ thuộc vào nhiệt độ.

Trứng bọ xít bị nhiều loài ong ký sinh, đó là Anatatus aff. Japonicus và ong Oeneyrtus fongi Tryapizin.

Sâu non có 5 tuổi, tuổi 1-2 sống tập trung, tuổi 3-4 sống phân tán.

c) Biện pháp phòng trừ:

– Khi mùa xuân về, bọ xít trưởng thành tập trung trở về nhãn vải để giao phối đẻ trứng với mật độ cao và khá tập trung do đó có thể bắt và diệt trưởng thành.

– Khi bọ xít đẻ, trứng thường tập trung ở mặt sau của lá, quan sát và ngắt bỏ các ổ trứng (chỉ áp dụng được với cây ít tuổi, tán thấp)

– Sử dụng 2 loài ong ký sinh ở trên vào cuối vụ vì tỉ lệ ký sinh ở trên rất cao vào cuối vụ (tháng 6).

– Dùng các loại thuốc như: Dipterex, Sherpa… để trừ bọ xít trưởng thành và bọ xít non.

Để trừ bọ xít trưởng thành có hiệu quả cao nên phòng trừ trước khi bọ xít giao phối và đẻ trứng.

Bọ xít non nên trừ khi chúng còn sống tập trung (tuổi 1, 2 hoặc đầu tuổi 3) trước khi chúng phân tán ra quả non gây hại.

6.3. Nhện lông nhung hại nhãn vải (Eriophyes litchii Keifer):

a) Triệu chứng:

Nhện trưởng thành di chuyển và xâm nhập vào các chồi non mới nhú, sinh sống và đẻ trứng. Sâu khi lá non mở ra được 1-1,5cm đã xuất hiện những sợi lông nhung. Ban đầu vết lông nhung có màu xanh hơn bình thường, sau đó chuyển sang màu trắng bạc, trắng hơi vàng rồi vàng nâu và cuối cùng chuyển sang nâu sẫm. Nhện lấy dinh dưỡng từ lá làm cho lá sinh trưởng phát triển kém, nhỏ và cong queo, có lớp lông nhung dày đặc ở mặt sau làm ảnh hưởng xấu đến khả năng quang hợp.

Những hoa có nhện lông nhung sinh sống thường không có khả năng nở hoa và thụ phấn. Những quả non có nhện lông nhung sinh sống thì quả không lớn lên được và sau đó đều bị rụng.

Nhện sinh sống, tiếp tục sinh sản những thế hệ tiếp theo trong lớp lông nhung.

b) Đặc điểm phát sinh, phát triển:

Ở miền Bắc nhện phát sinh quanh năm, vụ xuân nhện phát sinh mạnh nhất và gây thiệt hại nhiều hơn vụ hè, vụ thu và vụ đông.

Nhện đẻ trứng đơn tại gốc các sợi lông nhung, thời kỳ trứng 2,5 ngày, nhện có 5 tuổi. Vòng đời từ 15-19 ngày tuỳ điều kiện nhiệt độ.

Đường lan truyền của nhện chủ yếu là nhờ gió, ngoài ra chúng có thể tự di chuyển từ cây này đến cây khác hoặc những vùng rất gần nơi chúng sinh sống. Khi tới nơi ở mới nhện tiếp tục sinh sản, khi lông nhung trên lá có màu vàng nâu là lúc thế hệ cuối cùng của nhện đã trưởng thành, lá đã già không còn thích hợp cho nhện lông nhung sinh sống và nhện bắt đầu di chuyển đi tìm nơi cư trú mới.

Thời gian bắt đầu xuất hiện những sợi lông nhung đầu tiên đến khi nhện bỏ đi là từ 50-58 ngày.

Những chồi có nhện lông nhung sinh sống thì hầu hết những lá non đều bị lông nhung.

Trên lá, nhện lông nhung chỉ sinh sống ở phía dưới nhưng ở hoa quả non thì không có sự phân biệt.

c) Biện pháp phòng trừ:

– Thu gom, ngắt bỏ những cành lộc bị lông nhung. Biện pháp này phải được thực hiện trước khi lông nhung có màu vàng nâu.

– Khi các lộc non vừa nhú, phòng trừ muộn hiệu quả phòng trừ sẽ thấp.

– Sử dụng các loại thuốc hoá học chuyên trừ nhện như: Pegasus 500ND; Ortus 3SC; Regent 800WP…

Ngoài ra nhãn, vải còn bị một số loài sâu bệnh khác gây hại như: sâu đục quả vải (Acrocercop cramerallaSmellem); ve sầu bướm (Ricania speculum Walker); Rệp muội hại vải (Aphadidae), dơi, bệnh chết rũ (Phytophthora sp, Pythium sp, Fusarium solani, Rhizoctonia sp, Cylindrocladium sp), bệnh thán thư (Collectotrichum), bệnh sương mai (Peronospora sp), tơ hồng (Cassytha filiformis).

7. SÂU BỆNH HẠI KHẾ

Chưa có loại bệnh nấm, virus nào nguy hiểm đối với khế. Các loại sâu đáng chú ý là ruồi đục quả, sâu non thuộc bộ cánh phấn, đục vào quả và có thể ăn cả hoa và quả non.

8. SÂU BỆNH HẠI XOÀI

8.1. Sâu đục chồi, cuống xoài

a) Sâu đục cành non xoài (Chlumetia transversa và Alcicoides sp.):

Chúng thuộc bộ cánh phấn. Thành trùng là con ngài nhỏ có sải cánh 1,75cm. Con cái đẻ trứng trên lá. Sâu non khi mới nở ra thì đục ngay vào lá, sau đó chúng đục thẳng vào đầu các ngọn non, chùm hoa, ăn rỗng phía trong làm cho chồi non, cành hoa bị héo đi hoặc gãy đổ.

b) Sâu đục cành lớn xoài (Penicillaria jocosatrix):

Mặc dù không phổ biến nhưng sâu đục cành lớn thuộc bộ Lepidoptera, họ Noctuidae thường ăn chồi non, làm ngừng sinh trưởng của cây non trong vườn ươm, cây non và cả trên quả non, cuống quả. Ngài trưởng thành có cánh dài 25mm, mầu nâu đỏ với những dấu nhạt chạy ngang cánh trước. Cánh sau màu trắng có rìa nâu. Trứng màu chanh và đẻ từng quả một ở cả 2 mặt lá của chồi non. Sau 3-5 ngày trứng nở thành sâu non có màu xanh nhạt đến xám và dài tới 27 mm bắt đầu đục vào các chồi non, chồi hoa, cuống quả để gây hại làm héo chồi, gẫy cành và rụng quả non. Sâu non đẫy sức hoá nhộng trong đất và 16-20 ngày sau ngài xuất hiện. Sâu thường phát sinh, phát triển nhiều lứa trong mùa xuân và mùa hè nóng ẩm, nhất là các vùng khí hậu nhiệt đới. Thực tế thường thấy xuất hiện ở các tỉnh Quảng Bình trở vào, ít khi thấy ở các tỉnh phía Bắc.

c) Sâu đục cành xoài (Niphonolea albata và Niphonolea capito):

Chúng cũng thuộc bộ cánh phấn, thường gây hại bằng cách cắn tiện ngang ngọn của các cành non để đẻ trứng vào. Sâu non nở ra đục vào mô gỗ làm cành bị chết khô, thường gây hại nặng trong mùa mưa. Những cành ngọn sắp ra hoa cũng bị chúng gây hại nặng.

d) Một số biện pháp phòng trừ:

– Khi thấy các cành non mới bị héo đây là lúc các sâu non đang đục ngược ra phía ngọn cành, dùng kéo cắt hoặc bẻ bằng tay rất dễ vì chúng có lỗ đục ngang nên cành dễ gãy, ta sẽ loại bỏ được các con sâu non.

– Với các cành đã héo khô, lúc này sâu non đã đục xuống cành lớn hơn qua khỏi lỗ đục ngang ban đầu, ta có thể cắt sâu xuống một đoạn để loại bỏ sâu non hoặc nhộng đang nằm trong thân cành. Thu gom các cành này lại để đốt nhằm hạn chế lây lan vì khi sâu đã đục vào trong cành thì phun thuốc không có hiệu quả.

– Thường xuyên quan sát, phát hiện sâu, trứng sâu trên các đợt chồi non, lộc non, nhất là trước khi cây chuẩn bị ra lộc, ra hoa để kịp thời phun thuốc diệt trừ các con trưởng thành và trứng mới đẻ. Khi thấy có nhiều trứng hoặc sâu non có thể dùng các loại thuốc trừ sâu sau đây để phun trừ: Selecron 500ND, Supracide 50EC, Fastac 5EC, Padan 95SP v. v… Phun thuốc vào buổi chiều mát có tác dụng hơn các buổi khác trong ngày.

8.2. Xoài bị rụng quả

Mặc dù xoài thường ra hoa rất nhiều nhưng rụng hoa, rụng quả non cũng không ít, đôi khi tỷ lệ rụng hoa và quả non lên đến 99%. Dưới đây là một số nguyên nhân và biện pháp phòng chống tình trạng này ở xoài.

a) Nguyên nhân:

– Xoài rụng hoa và quả non nhiều có thể do hiện tượng ra quả cách niên. Nhiều cây xoài, đặc biệt là những cây già thường kiệt sức sau một vụ mang quả nên vụ sau thường ra rất ít quả, hoặc không có. Tuy nhiên, cũng có những giống xoài như xoài cát, Thanh Ca thường xuyên xuất hiện hiện tượng ra quả cách niên.

– Thời tiết không thích hợp (mưa gió, ẩm thấp…) cũng ảnh hưởng đến sự thụ phấn vì nó cản trở sự hoạt động của những côn trùng thụ phấn hoặc làm rữa hạt phấn không cho nảy mầm trên nhụy hoặc làm vỡ hạt phấn. Tỷ lệ thụ phấn cao khi trời nóng và khô.

– Việc rụng hoa nhiều cũng có thể xuất hiện từ yếu tố di truyền, giống nào có cuống to thường ít rụng hoa và quả.

– Thiếu nước và dinh dưỡng trong thời gian mang quả cũng làm quả non rụng nhiều.

– Ngoài ra, một số sâu bệnh như: Rày bông xoài, bù lạch, bệnh thán thư…cũng thường gây nên hiện tượng rụng hoa, quả non ở xoài.

b) Biện pháp khắc phục:

– Cung cấp nước và dinh dưỡng đầy đủ cho cây trong thời gian ra hoa và mang quả (nếu thừa nước trong thời gian này cũng làm tăng khả năng rụng hoa, quả).

– Sau khi thu hoạch nên xén tỉa những cành bị sâu, cành già, đồng thời bón phân đầy đủ, nhất là phân đạm để giúp cây phục hồi nhanh và tích luỹ đủ chất dinh dưỡng cho vụ sau. Có thể phun thêm lá (có chứa đồng, kẽm, mangan và ma nhê) vào giai đoạn ra lá non để cây phát triển tốt.

– Hạn chế phun nhiều thuốc trừ sâu trong gia đoạn ra hoa để không ảnh hưởng đến các côn trùng thụ phấn, đặc biệt ruồi nhà là côn trùng thụ phấn tốt nhất cho xoài.

– Xác định đúng đối tượng sâu bệnh và chọn đúng thuốc để phòng trừ.

– Trong thời gian từ 2 – 7 tuần sau khi trổ, hoa (quả non) thường dễ rụng do cuống tạo tầng rời, vì thế nên phun chất điều hoà sinh trưởng như NAA hoặc GA3, có thể phun 2- 3 lần. Lần đầu khoảng 15-20 ngày sau khi hoa nở rộ, lần sau khi quả to bằng ngón tay cái. Giai đoạn đầu phun NAA (50ppm), những giai đoạn sau nên phun GA3 sẽ giúp cây phát triển nhanh và giảm rụng quả. Cần phun đúng liều lượng trong khuyến cáo để tránh gây thiệt hại cho cây trồng.

– Cần tỉa bớt quả nếu cây ra quá nhiều, nhất là những cây tuổi còn nhỏ, nếu để quả nhiều sẽ làm cây kiệt sức ở vụ sau.

9. SÂU BỆNH HẠI ỔI

9.1. Ruồi đục quả ổi:

Quả ổi trong vườn đã bị con ruồi đục quả (Bactrocera dorsalis) gây hại. Loài ruồi này là một loại côn trùng đa thực vì ngoài ổi chúng còn gây hại trên rất nhiều loại quả cây khác, như: Mận, táo, sapô, đu đủ, xoài, thanh long, chôm chôm, xiêm…

Đây là loại sâu hại nguy hiểm nhất trên cây ổi, vì chúng gây thất thu rất lớn cho vườn cây. Ở Tiền Giang, Đồng Tháp có những vườn ổi bị chúng gây hại hầu hết số quả trong vườn. Loài ruồi này gây hại trên hầu hết các giống ổi. Giống ổi xá lị (ổi không hạt) là giống bị ruồi gây hại nhiều hơn, vì vậy, nên áp dụng một số biện pháp để hạn chế tác hại của chúng.

Biện pháp hạn chế tác hại của ruồi:

– Thu hoạch quả sớm hơn bình thường, đừng để quả chín đeo quá lâu trên cây.

– Thường xuyên tỉa bỏ cành già, cành tăm, cành bị sâu bệnh… để vườn luôn được sạch sẽ và thông thoáng.

– Thu gom những quả bị rụng, những quả bị giòi đem tiêu hủy hoặc đem chôn, để hạn chế mật độ ruồi ở các lứa sau.

– Do con giòi hóa nhộng dưới đất xung quanh gốc cây nên bác có thể rải Basudin 10H, Vibasu 5H/10H; Padan 4G/10G, Regent 0,2G/0,3G…xuống xung quanh gốc ổi để diệt nhộng đang nằm dưới đất. Cũng có thể dùng “thuốc nhử ruồi” VIZUBON-D để dẫn dụ và diệt ruồi đực sẽ có tác dụng hạn chế tác hại của giòi rất lớn, biện pháp này nếu vận động được nhiều bà con trên một vùng rộng lớn cùng làm thì mới có kết quả cao.

– Không nên dùng thuốc hóa học phun trực tiếp lên quả ổi khi quả ổi sắp được thu hoạch vì rất dễ gây ngộ độc cho người ăn.

9.2. Ghẻ ổi

Đây là bệnh do nấm Venturia inaequalis gây ra. Nấm thường tấn công trên các phiến lá, cuống lá, hoa và quả non, ít khi tấn công trên các chồi non. Các sợi nấm thường lây lan qua các giọt nước, gió… và xâm nhiễm vào các lỗ khí khổng của các bộ phận non ở lá, cuống hoa, quả non để phát triển và gây hại. Trên lá, bệnh thường xuất hiện đầu tiên ở mặt dưới lá trước sau đó mới lan dần. Khi mới xuất hiện đốm bệnh có hình tròn, màu xám xanh, viền dần rõ nét hơn và có tơ màu đen hơi xanh. Sau một thời gian thì các sợi tơ này biến mất, vết bệnh mọc nhô lên trông như những chiếc gai nhỏ. Bệnh nặng làm cho lá bị nhỏ lại, rộp phồng lên và khô chết dọc theo bìa lá. Trên quả, vết bệnh có hình tròn, rõ nét, màu xanh xám, có các sợi tơ phát triển trên đó. Giai đoạn sau các vết bệnh chuyển màu nâu sẫm, nổi thành ghẻ và nứt. Nếu trên bề mặt quả có nhiều vết bệnh và bệnh phát triển mạnh sẽ làm cho quả bị biến dạng, méo mó, chất lượng kém, thịt quả cứng, ít nước và ăn không ngon, thậm chí bị rụng sớm.

9.3. Bệnh thán thư hại ổi do nấm Gloeosporium psidii và Glomerella psidii gây ra:

Trên quả ổi xanh xuất hiện các đốm đen nhỏ như đầu kim, sau đó phát triển thành các đốm tròn nâu sậm hay đen lõm vào thị quả. Trong điều kiện khô hạn, vết bệnh khô lại có nhiều vòng đồng tâm, vùng bệnh trở nên cứng, sù sì. Quả non cũng có các triệu chứng ghẻ. Quả bị bệnh nặng có thể bị méo mó, biến dạng và rụng sớm. Với điều kiện ẩm độ cao, các vết bệnh có thể làm nhũn cả quả, trên mặt vết bệnh có lớp phấn màu hồng. Bệnh thán thư cũng làm héo chết các mầm lá, hoa, quả non. Các ngọn cành biến màu nâu sậm, khô dần và chết cả ngọn, lá rụng hết trơ lại cành khô. Nếu trời ẩm, nấm có thể tạo các ổ nấm màu đen nằm rải rác trên các cành khô, từ đó xâm nhập, lây lan vào cuống và tấn công lá gây các đốm màu tím trên lá, bìa và chóp lá bị cháy. Bệnh cũng phát sinh, phát triển trong điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ lớn và dễ lây lan qua gió, nước mưa.

Biện pháp phòng trừ:

– Để phòng ngừa cả 2 bệnh nói trên cần xử lý hết nguồn bệnh trước khi trồng mới hoặc sau các vụ thu hoạch cần đốn tỉa triệt để và thu gom hết các tàn dư cây bệnh đem tập trung và đốt hết để tránh lây lan.

– Không nên trồng quá dầy làm vườn cây thiếu ánh sáng, cắt tỉa, tạo hình để các cây sinh trưởng phát triển tốt, có độ thông thoáng, tránh được ẩm độ cao trong vườn. Dùng vôi bột, Falizan để xử lý đất. Phun ngừa bằng Boócđô 1% hoặc các loại thuốc trừ nấm có gốc đồng như Copper-Zine, Copper-B, Oxít clorua đồng (25-30 g/bình 10 lít), Benomyl, Zineb, Difolatan ở nồng độ 0,2% sau khi cánh hoa rụng rất có hiệu quả phòng ngừa.

– Khi có triệu chứng bệnh xuất hiện hoặc đã gây hại nặng thì nên dùng các loại thuốc trừ nấm mạnh, có tính nội hấp 2 chiều như Ridomil, Aliette 80WP, Topsin M pha nồng độ 0,3% (30g/bình 10 lít) phun kỹ trong và ngoài tán, phun ướt đẫm toàn bộ mặt tán. Cần lưu ý là các hợp chất đồng có thể làm lá bị đổi màu nêu đỏ (các giống ổi có màu đỏ nhạt tương đối ít bị ngộ độc hơn).

– Khi quả ổi đạt kích thước 2/3 – 3/4 kích thước tối đa có thể dùng biện pháp bao quả vừa hạn chế được sự gây hại của sâu bệnh đồng thời giúp cho quả mau lớn và giữ được màu sắc, mã quả đẹp sẽ bán được giá cao hơn. Với các giống ổi thì việc bao quả càng nên làm vì dễ làm, chi phí thấp mà hiệu quả lại cao. Có thể sử dụng túi nilon (có cắt vài lỗ nhỏ cho quả hô hấp) hoặc túi giấy chuyên dụng.

– Nên phun một số loại thuốc trừ nấm như Antracol 70WP, Topsin M 70WP, Copper-Zinc 85WP trước khi bao quả để quả không bị nhiễm bệnh sau khi bao.

10. SÂU BỆNH HẠI THANH LONG

10.1. Bọ xít hại thanh long

Đó là hai loài bọ xít là bọ xít xanh và bọ xít đen. Hai loài bọ xít này thường gây hại cho cây thanh long từ khi cây có nụ hoa cho đến khi hình thành quả. Chúng thường bu lại thành từng đám trên nhánh non, nụ hoa, quả non để gây hại. Cả con bọ trưởng thành và con bọ ấu trùng đều gây hại cho cây thanh long bằng cách chích hút nhựa, để lại những vết chích rất nhỏ, khi quả chín chỗ vết chích xuất hiện một chấm đen, vỏ quả sần sùi, làm mất giá trị thương phẩm. Nếu mật độ cao, gây hại nhiều mà bạn không áp dụng các biện pháp diệt trừ kịp thời thì có thể làm cho cây bị chết.

Để hạn chế tác hại của bọ xít có thể áp dụng kết hợp một số biện pháp sau:

– Không trồng qúa dầy, thường xuyên cắt bỏ các cành già, cành bị sâu bệnh…để vườn luôn thông thoáng hạn chế nơi trú ngụ và tác hại của chúng.

– Thu thập và nhử nuôi kiến vàng trong vườn thanh long để kiến tiêu diệt bọ xít.

– Dùng vợt tay để bắt bọ xít vào lúc sáng sớm hay chiều mát để bắt con trưởng thành.

– Hàng ngày khi thanh long, nếu phát hiện thấy bọ xít thì bắt tiêu diệt ngay, đừng để đến lúc chúng sinh sôi nẩy nở, tích luỹ số lượng, gây hại nhiều, mới dùng thuốc hoá học để xịt thì vừa tốn kém tiền của công sức, gây độc hại cho người phun xịt, ô nhiễm môi trường mà đôi khi hiệu qủa mang lại cũng không cao.

– Ở những vườn thường bị bọ xít gây hại nặng hàng năm thì từ khi hình thành quả trở đi, hoặc ở những vườn có mật số bọ xít cao, nên sử dụng một số loại thuốc như: Bassa 50EC, hoặc Bassan 50EC, Basatigi 50EC, Hoppercin 50EC, Vibasa 50EC, Fastac 5EC (hoặc Vifast 5ND, Visca 5EC?)…để phun xịt. Trước khi sử dụng cần đọc kĩ hướng dẫn của nhà sản xuất có in trên nhãn thuốc. Sau khi xịt khoảng một tuần nếu thấy vẫn còn bọ xít thì nên xịt thêm một lần nữa.

10.2. Ruồi vàng hại trái cây

Đây là đối tượng hại rất nguy hiểm đang được báo động hiện nay. Ruồi trưởng thành chích và đẻ trứng vào trái cây gây thoái hóa phần thịt quả làm quả thanh long bị thối không cho thu hoạch.

Phòng trừ bằng thuốc Ruvacol và Vizubol đã có chất dẫn dụ nên tiện cho nhà vườn hơn.

10.3. Bệnh thối đầu cành

Ngọn thanh long chuyển mầu vàng rồi mềm sau đó thối, cây tăng trưởng chậm, số cành giảm hẳn. Bệnh sảy ra vào cuối mùa hè. Nguyên nhân là do nấm Alternaria sp. Gây ra, Trị bằng cách phun Roval 2 lần liên tiếp cáh nhau 1 tuần.

10.4. Bệnh đốm nâu trên cành

Trên cành thanh long có những đốm tròn như mắt cua mầu nâu, vết bệnh nằm rải rác hoặc tập trung, thường kéo dài thành vệt dọc theo thân cành

Phòng trừ bằng cách vệ sinh đồng ruộng, tưới tiêu nước hợp lý. Biện pháp hóa học là phun Rovral hoặc Anvil phối hợp với Topas

11. SÂU BỆNH HẠI KHOAI LANG

11.1. Sâu bọ hà

– Vụ Xuân bị nhiễm nhiều hơn vụ Đông vì nhiệt độ cao hơn.

– Đất thịt, thịt nhẹ nhiễm nhiều hơn đất cát.

– Phòng trừ:

+ Nhử bọ hà trưởng thành bằng miếng củ để nó đẻ trứng vào miếng củ đó (gọi là bẫy củ)

+ Vun cao luống giữ đất ẩm.

+ Luân canh với lúa nước, hoặc ngâm đất ngập nước khoảng 3-5 ngày + Dẫn dụ sinh học

11.2. Sâu sa

– Vụ Xuân nhiều hơn

– Bắt bằng tay

– Luân canh

11.3. Sâu đục thân

– Vụ Xuân nhiều hơn

– Luân canh

– Vệ sinh đồng ruộng

11.4. Bệnh thối đen

– Chú ý dây giống sạch

– Luân canh

– Vệ sinh đồng ruộng

11.5. Bệnh thối củ

Nguyên nhân chính: Đất ẩm liên tục nhất là cuối vụ

12. SÂU BỆNH HẠI CHUỐI

– Bệnh đốm lá Sigatoka: Do nấm Mycaspharella musicola và M fijiensis gây hại. Chúng phát triển trong điều kiện ấm ẩm, nhiệt độ 26-280C, mù trời, độ ẩm cao. Chúng gây hại chính trên lá tạo ra những hình bầu dục có mầu nâu với viền vàng rất rõ. Phòng trừ bằng cách vệ sinh đồng ruộng, cắt bỏ lá bệnh đem đốt, tháo nước, sử dụng các loại thuốc trừ nấm như Bordeaux 2%, Benomyl, manage…

– Bệnh vàng lá Panama (héo rũ): Gây ra bởi nấm Fusarium oxysporum. Các lá bị vàng từ mép lá vào gân chính. Khi cắt ngang thân giả thấy các mạch dẫn truyền có mầu nâu đỏ. Bệnh liên quan nhiều đến tình hình dinh dưỡng trong đất như tỷ lệ mùn thấp, cấu trúc đất xấu, hàm lượng Zn thấp, tỷ lệ Ca/Mg, K/Mg cao thuận lợi cho nấm phát triển. Phòng trừ bệnh rất khó khăn, chủ yếu là phòng, tiêu huỷ cây bệnh, xử lý chồi tốt nhất là dùng giống in vitro, cải thiện tính chất lý hoá đất, dùng giống chống bệnh.

– Bệnh chùn ngọn (Bunchytop): Có nhiều lá mọc chụm lại ở ngọn thân giả, lá nhỏ, mép lá vàng và bị cong đi, phiến lá có các đường sọc xanh nhạt chạy song song với gân chính. Bệnh do virus gây ra và lây lan do môi giới truyền bệnh là rệp. Biện pháp chủ yếu là phòng bệnh, trừ rệp, sử dụng giống sạch bệnh.

– Ngoài ra còn các bệnh như thối nõn, thối nâu quả…

– Sâu đục thân chuối (Cosmopolite sordidus): Còn gọi là sâu vòi voi, phá hoại chủ yếu thân thật ở dưới đất. Phòng trừ bằng cách xử lý đất quanh gốc bằng Furadan, Basusin, vệ sinh cắt lá khô trên cây, đặt bẫy bả là những khúc chuối bổ đôi úp xung quanh gốc.

– Sâu hại lá chuối bao gồm sâu cuốn lá, sâu dóm gây hại trên phiến lá. Phòng trừ bằng cách ngắt bỏ lá bị sâu hại sống tập trung, phun thuốc trừ.

– Ngoài ra còn các loại sâu hại hoa quả như bọ trĩ, sâu tơ, nhện, bọ vẽ… ăn hại các phần hoa, vỏ quả non để lại vết sẹo, ghẻ xấu mã. .

– Tuyến trùng: Truyến trùng xâm nhập vào rễ làm vách tế bào, ngăn cản rễ hút dinh dưỡng. Phòng trừ chủ yếu xử lý đất bằng Furadan, Basudin.

Loading...

ĐỂ LẠI LỜI NHẮN

Please enter your comment!
Please enter your name here