Kỹ thuật chọn giống, trồng, chăm sóc, phòng trị bệnh cho cây đu đủ

0
1056

Cách chọn giống đu đủ cho nhiều quả

Cây đu đủ vốn có tính di truyền phức tạp, phấn của hoa đực và hoa lưỡng tính lại rất khác nhau, tính mẫn cảm của phấn hoa đực cao gấp nhiều lần của hạt phấn hoa lưỡng tính, do đó đu đủ rất dễ bị lai tạp, khó giữ được giống tốt thuần chủng nếu không thụ phấn bắt buộc.

Kỹ thuật chọn giống, trồng, chăm sóc, phòng trị bệnh cho cây đu đủViệc thụ phấn bắt buộc trước hết phải chọn cây giống khoẻ, ít sâu bệnh, cần phải chọn đúng giống, chọn những nụ hoa ra ở lứa quả đầu tiên, khi cây còn đang rất sung sức, nếu vào đúng lúc thời tiết đầu mùa hè thì càng tốt, sau này số hạt sẽ cho nhiều hơn. Dùng kim châm cho các nụ hoa nhỏ ở trong chùm hoa nhiều vết, mấy hôm sau hoa tự rụng đi, chỉ để lại một nụ hoa ở giữa to nhất, khi đầu cánh của nụ hoa bắt đầu có màu trắng thì dùng túi nilon trong, châm thật nhiều lỗ cho dễ thoát hơi nước và không khí, sau đó bao nụ hoa lại theo dõi tới khi hoa nở. Các buổi sáng tháo túi nilon ra, ngắt bao phấn thoa lên đầu nhụy hoa cái. Nếu cây giống là cây lưỡng tính, có hoa lưỡng tính thì lấy bao phấn của hạt hoa lưỡng tính. Nếu là giống chỉ có hoa cái và hoa đực riêng rẽ trên từng cây thì lấy phấn hoa đực và sau đó sẽ có 50% là hạt sẽ cho cây đực. Thụ phấn xong, bao hoa lại để tránh hoa bị thụ phấn của giống khác ngoài ý muốn. Chờ 2-3 ngày sau hoa rụng đi thì tháo túi nilon ra cho quả phát triển tự nhiên.

Muốn đu đủ cho sai quả và có quả to cần chọn chân đất tốt, ẩm và thoát nước tốt, ánh sáng đầy đủ, không bị cây khác che khuất. Chăm sóc thật tốt cho cây luôn có 50-60 lá xanh tốt trên cây.

Loading...

Khi mới trồng nên đào hố sâu, rộng, bón lót từ 20-30kg phân hữu cơ mục và thêm 0,1-0,2kg lân, sang tháng thứ 2-3 thì bón thúc mỗi gốc khoảng 25-30 gam đạm và 40 gam DAP hoà tan trong nước, tưới vào dưới tán cây, cách xa gốc 20-30cm. Các tháng sau, cây to ra, hoa quả nhiều, cần tăng dần lượng phân cho tới lúc quả chín, hạn chế ở mức độ 120-150 gam urê và 140-160 gam DAP cho tới khi cây hết khả năng cho quả thương phẩm. Chú ý vào mùa lạnh cần tưới ẩm thường xuyên, kết hợp phun oxyclorua đồng. ở ấn Độ người ta còn tưới cả dung dịch này vào gốc cây, giúp cây có thêm vi lượng đồng, chống rét và bạc lá. Chú ý phòng trừ rệp hại cây.

Kỹ thuật trồng và bón phân cho cây đu đủ

Đu đủ là loại cây ăn trái nhiệt đới, được trồng phổ biến rộng rãi nhiều nơi. Trồng xen cây lâu năm hoặc trồng thành vườn chuyên,… Đu đủ cho năng suất rất cao, làm tăng thu nhập kinh tế gia đình của người trồng đu đủ.

1. Khí hậu:

Cây đu đủ phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm và ẩm, lượng mưa 100mm/tháng, không bị che bóng mát.

Đu đủ rất nhạy cảm với nhiệt độ và ẩm độ, khi nhiệt độ cao (30-350C) hoặc ẩm độ cao, lượng mưa nhiều (250 – 300 mm/tháng) cây sẽ sinh trưởng kém, không hoặc ít đậu trái.

2. Đất đai:

Đất không hoặc ít phèn. Tốt nhất, pH từ 5,5 – 6,5. Đất tơi xốp, dễ thoát nước. Nếu có lên mương líp, nên giữ mực nước trong mương  với độ sâu 50-60 cm cách mặt líp.

3. Thời vụ:

Đu đủ có khả năng trổ hoa và đậu trái quanh năm, tuy có mùa ít hoặc không đậu trái. Do vậy, để trồng đu đủ đạt năng suất cao, trái đẹp, hạn chế sâu bệnh, có thể bố trí trồng đu đủ vào các vụ sau:

– Vùng đất chủ động tưới tiêu, trồng đu đủ vào mùa mưa (tháng 7 – tháng 8 dl)

– Vùng đất kém chủ động nước (vùng bị ảnh hưởng của nước lũ) trồng sau khi nước rút. Khi trồng, cây con phải đạt từ 20 -30 ngày tuổi.

4. Giống:

Hiện nay, Đu đủ được trồng nhiều loại giống khác nhau nhưng phổ biến nhất là giống Hong Kong da bông và Đài Loan tím.

– Giống Hong Kong da bông: Cho năng suất cao, trọng lượng trái trung bình từ 2,5 – 3 kg, vỏ dày, chống chịu khá với nhện đỏ và các bệnh do Virus. Thịt trái có màu vàng, hàm lượng đường từ 9 -10%.

– Đài Loan tím: Năng suất rất cao, trái nhiều, trọng lượng trái từ 1.2 – 1.5 kg. Thịt trái có màu đỏ tím, chắc thịt. Hàm lượng đường từ 10 -11%. Cây dễ bị nhện đỏ và các bệnh do Virus, nhưng vẫn có khả năng cho trái tốt trong những năm đầu.

Ngoài ra còn có một số giống nhập nội hiện đang trồng phổ biến như:

– Giống EKSOTIKA: Cho phẩm chất ngon, thịt trái màu đỏ tía, chắc thịt, tươi đẹp, hàm lượng đường 13 – 14%, trọng lượng trái 500g – 1kg.

– Giống Sola: Có đặc điểm gần giống như EKSOTIKA nhưng thịt trái chắc hơn, thơm ngon hơn, hàm lượng đường 15 – 17%, trọng lượng trái  300 – 500g

5. Chọn và xử lý hạt:

– Chọn hạt: Từ trái thon dài, phát triển tốt trên cây mẹ khỏe, sạch sâu bệnh, trái phải đủ độ già trên cây, chỉ lấy những hạt ở giữa trái và chìm trong nước.

– Xử lý hạt: Chà tróc vỏ lụa bên ngoài hạt, đem phơi trong mát và cất giữ nơi khô ráo. Trước khi gieo nên ngâm hạt trong nước nóng 50 -550C (3 sôi 2 lạnh) khoảng 10 phút. Sau đó tiếp tục ngâm trong nước lã khoảng 2 giờ.

6. Ươm cây con:

– Hạt sau khi xử lý, được ươm trên líp. Mặt líp có trộn tro trấu. Khoảng 5-10 ngày, hạt sẽ nẩy mầm. Khi cây cao khoảng 4 – 6cm, cấy vào bầu. Nên chọn cây khỏe mạnh, kích thước trung bình, rễ chùm nhiều. Kích thước bầu 6-10cm.

– Đất làm bầu: 1/3 lớp đất mặt xốp, 1/3 tro trấu và 1/3 phân hữu cơ. Cây con trong bầu được 2 – 4 tuần có thể đem trồng.

7. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

– Chuẩn bị đất : Các vùng đất thấp cần phải lên líp trước khi trồng, sử dụng lớp đất mặt trộn với 1-2kg phân hữu cơ sinh học HG01, 200gr  vôi, đắp thành mô với kích thước 50 x 50 x 30cm

– Khoảng cách trồng:

Cây cách cây: 1,8 – 2cm

Hàng cách hàng: 2 – 3cm

Cách bón phân:

– Bón lót: Từ 1-2kg phân cơ sinh học, 200gr vôi.

– Cây từ 1 tháng tuổi sau khi trồng: 50gr Phân NPK 16-12-8-11+TE. Pha trong 10 lít nước, tưới cho cây. 1 tuần tưới 1 lần.

– Cây từ 1 – 3 tháng tuổi sau khi trồng: Lượng phân bón tính cho 1 cây: 50-100gr/1 lần. Bón 15-20 ngày 1 lần.

– Cây từ 3 -7 tháng tuổi sau khi trồng bón:  Lượng phân bón tính cho 1 cây: 100-150gr NPK 12-12-17-9+TE.  Bón  1 tháng 1 lần. Đến tháng thứ  6, có thể bón thêm 1kg phân hữu cơ sinh học HG01 và 100gr vôi cho một cây, kết hợp vun gốc.

Có thể phun thêm phân bón lá. Phun định kỳ 3 -4 tuần/lần theo nồng độ hướng dẫn.

Chăm sóc

Tưới nước: Đu đủ là loại cây cần nhiều nước nhưng rất sợ úng. Do đó cần cung cấp đầy đủ nước cho cây vào mùa nắng và thoát nước tốt cho cây vào mùa mưa hoặc khi bị úng, lũ.

Làm cỏ: Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng và là nơi trú ẩn của sâu bệnh. Cần làm thường xuyên quanh gốc.

Tủ gốc: Dùng rơm hoặc cỏ khô tủ quanh gốc vào mùa nắng để giữ độ ẩm và giữ nhiệt độ thích hợp cho cây.

8. Phòng trừ bệnh:

– Nhện đỏ: Thường gây hại cho cây vào mùa nắng, ở dưới mặt lá. Lá bị hại có đốm vàng, loang lỗ, sau đó lá bị cháy và rụng.

– Phòng trị: Phun một trong những loại thuốc sau đây: Danitol, Bi 58 nồng độ 0.1%. Luân phiên đổi thuốc hoặc có thể trộn hỗn hợp 2 loại thuốc để phun, vì nhện đỏ rất kháng thuốc.

9. Thu hoạch:

Khi trái đạt kích thước tối đa và bắt đầu chín thì có thể thu hoạch. Quan sát lúc vỏ trái bóng lên, hơi ửng vàng ở chóp trái (gọi là đu đủ lên da), lúc này nhựa mủ trong cây chảy ra hơi trong.

Cần chú ý thu trái lúc trời nắng ráo, vì vỏ trái khi chín thường mềm dễ bị xây xát. Ở nhiệt độ 8 – 12oC trái chín có thể tồn trữ được khoảng 3 tuần.

10. Bảo quản:

Đu đủ hái về cần đưa vào phòng bảo quản ở nhiệt độ từ 4-10oC, có thể giữ trái tươi được 15-25 ngày.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc đu đủ

1. Chọn hạt giống:

– Chọn quả chín, cắt bỏ phần đầu và phần cuống quả, lấy hạt ở phần giữa quả thả ngay vào nước, chọn hạt đen và chìm, rửa sạch màn nhớt bọc ngoài hạt, đem hong khô rồi gieo ngay.Kỹ thuật chọn giống, trồng, chăm sóc, phòng trị bệnh cho cây đu đủ

– Hạt nảy mầm đều đặn sau 10-15 ngày. Cũng có thể gieo hai ba hột trong bầu nhỏ để trừ hao khi hạt ít nảy mầm, sâu bệnh phá hại hay để tỉa bớt cây đực.

2. Trồng cây

Cây đu đủ không chịu phèn, rễ mọc cạn và chịu úng kém, do đó cần chọn đất không nhiễm phèn, tơi xốp, thoát nước tốt.

Nên đặt thân nằm nghiêng xuôi theo chiều gió mạnh để hạn chế bộ rễ ăn sâu.

Mật độ trồng: Thường trồng theo dạng hình chữ nhật, cây cách cây 1,5 – 2 m và cách hàng 2,5 – 3,0 m nên trồng thưa giữa hai hàng để dễ dàng chăm sóc và thu hoạch.

3. Bón phân

a. Phân hoá học bón theo tỉ lệ 3 – 2 – 4

+ Urê: 300g/ cây/ năm

+ Lân: 500g/ cây/ năm

+ Kali: 350g/ cây/ năm

Luợng phân này chia ra làm nhiều lần bón:

+Lần I: 2/3 tổng số luợng phân bón trong 4 tháng đầu sau trồng:

* Từ 1-2 tháng đầu: 50g/ 10lít nước (tuới 5 – 7 ngày/ lần)

* Từ tháng thứ 3 – 4: bón gốc lượng phân còn lại (bón 15 ngày/ lần)

+ Lần II: 1/3 tổng lượng phân còn lại bón vào tháng thứ 5, 6, 7, xới đất cách gốc 30 – 40cm.

Mỗi lần bón phân nên đắp thêm một lớp mỏng đất mặt khô, đồng thời đắp lấn rộng thêm mô trồng để tạo lớp đất mặt tốt để rễ cám ăn lan rộng ra. Không nên đắp thêm đất quá cao cây sẽ bị thối gốc.

Ở các vùng đất kém dinh duỡng có thể bón luợng phân nhiều hơn, nhưng chú ý cần tăng đều tỷ lệ các loại phân.

b. Phân hữu cơ: bón lót 10 kg/cây phân hoai mục (tuỳ theo nguồn phân hiện có).

c. Bón vôi: ở những vùng đất ít đuợc bồi đắp phù sa, hàng năm bón 100 – 200g vôi/ cây. Phân vôi cũng có khả năng hạn chế bệnh vàng bạc trên đu đủ.

4. Tuới nuớc: tưới vừa đủ nước cho cây, nên tưới nhiều lần để cây sinh trưởng tốt. việc khống chế mực nước trong mương vườn cũng có tác dụng tích cực nâng cao tuổi thọ của vườn đu đủ.

5. Làm cỏ: làm cỏ bằng tay, đu đủ dễ mẫn cảm với thuốc diệt cỏ do đó hạn chế sử dụng các loại thuốc trừ cỏ đặc biệt là 2,4D dễ làm chết cây.

Lưu ý: Cây Đu đủ ưa nước, sợ úng.

SÂU HẠI

1. Rệp sáp: phát triển nhiều trong mùa nắng, gây hại ở ngọn thân, lá, trái, bông,… chích hút nhựa cây làm trái kém phát triển, tạo môi trường nấm bồ hống tấn công.

Kỹ thuật chọn giống, trồng, chăm sóc, phòng trị bệnh cho cây đu đủ

Rệp sáp.

Phòng trừ:

– Không nên trồng xen trong vườn những cây dễ nhiễm rệp sáp như sua đũa, bình bát…

– Dùng máy bơm nước có áp suất cao, tia nước mạnh xoáy vào những chổ bị rệp bám sẽ rửa trôi bớt rệp.

Vệ sinh vườn sạch sẽ, đốt bỏ, tiêu huỷ lá già, lá bị hại.

– Khi mật số rệp cao, nấm bồ hóng nhiều có thể phun nước mạnh để rửa trôi bồ hóng và rệp. Sau đó dùng thuốc trừ sâu có tác dụng nội hấp mạnh hoặc thấm sâu như: Maxfos 50EC, Applaud 10WP, Dầu khoáng,…

Lưu ý, khi sử dụng thuốc nên phun kèm theo chất bám dính vì quần thể rệp sáp có lớp sáp trắng dầy phủ kín.

2. Rệp dính: bám và chích hút gây hại trên trái, đọt non, mặt dưới lá.

Phòng trừ: sử dụng thuốc hoá học Dầu khoáng, Regent 800 WP, Confidor 700 WG, Movento 150OD,… Lưu ý, khi sử dụng thuốc nên phun kèm theo chất bám dính vì quần thể rệp sáp có lớp sáp trắng dầy phủ kín.

3. Nhện đỏ:

Cả ấu trùng và trưởng thành đều sống tập trung ở mặt dưới phiến lá của những lá non đang chuyển dần sang giai đoạn bánh tẻ. Nhện gây hại bằng cách hút dịch của mô tế bào lá làm cho mặt trên của lá bị vàng loang lổ từng đám cỡ móng tay hay đồng xu… lá bị vàng, bị khô cháy và rụng.

Hoa bị thui không đậu trái được, trái non có thể bị rụng, Nhện đỏ thường phát sinh và gây hại nặng trong mùa khô nóng hoặc những thời gian bị hạn trong mùa mưa, do tốc độ tích luỹ mật số rất nhanh.

Biện pháp phòng trừ:

– Không nên trồng đu đủ quá dày để vườn luôn được thông thoáng.

– Cắt bỏ những lá có mật số nhện quá cao đã chớm bị vàng úa đem tiêu huỷ để diệt nhện.

– Dùng máy bơm nước tưới vườn có áp suất mạnh xịt mạnh tia nước vào mặt dưới của lá để rửa trơi bớt nhện.

– Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Silsau 1.8; 3.6EC, Actimax 50WG, Brightin 1.0;1.8EC, Dầu khoáng,…

BỆNH HẠI

1. Bệnh đốm vòng Do siêu vi khuẩn Papaya Ringspot Virus, gây hại ở nhiều bộ phận khác nhau của cây từ lá, trái đến thân và cuống lá.

Siêu vi trùng gây bệnh không truyền qua hạt giống, chúng lây bằng hai cách: do tiếp xúc cơ giới và côn trùng môi giới, chủ yếu là rầy mềm, bệnh lây lan rất nhanh, nhất là những cây được 5 – 6 tháng tuổi trở đi.

2. Bệnh khảm:

Do siêu vi khuẩn Papaya Mosaic Virus gây ra. Giống như đốm vòng, bệnh khảm cũng là một bệnh rất phổ biến trên cây đu đủ. Ban đầu phiến lá có nhiều vết xanh, vàng lẫn lộn. Nếu bệnh nặng lá biến dần sang mầu vàng, nhỏ lại, biến dạng.

Kỹ thuật chọn giống, trồng, chăm sóc, phòng trị bệnh cho cây đu đủ

Bệnh khảm gây hại.

Trái rất nhỏ, bị biến dạng, chai sượng, trên chùm trái thường có một số trái chảy nhựa thâm xanh lại thành vệt dọc. Trên thân (chủ yếu là phần còn non trên ngọn) và cuống lá có nhiều vết thâm xanh chạy dọc theo chiều dọc của thân, cuống lá .

Bệnh khảm không truyền qua hạt giống, mà lây lan qua các vết thương cơ giới và qua môi giới truyền bệnh do một số loài rệp thuộc họ Aphididae (rầy mềm).

Biện pháp phòng trị bệnh đốm vòng, bệnh khảm

Hiện nay chưa có biện pháp hữu hiệu nào trong việc chữa trị đối với hai loại bệnh do siêu vi trùng trên đây gây ra cho cây đu đủ, vì thế nên áp dụng kết hợp một số biện pháp sau đây để hạn chế tác hại của bệnh:

– Chọn cây giống khỏe

– Theo dõi, phát hiện và chặt bỏ sớm những cây đã bị bệnh đem tiêu hủy.

– Hạn chế bón nhiều phân đạm, bón thêm kali và vôi.

– Không nên trồng xen các loại rau cải, bầu bí, mướp trong vườn đu đủ. Hạn chế việc làm cho cây bị sây sát tạo vết thương cơ giới cho siêu vi trùng xâm nhập.

– Chăm sóc cho cây sinh trưởng và phát triển tốt.

– Có thể phòng trừ bằng một trong các loại thuốc sau đây để tiêu diệt côn trùng môi giới truyền bệnh như: Admire 050 EC, Vibamec 1.8EC, Confidor 100SL, …(sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn thuốc).

– Đu đủ rất dễ bị cháy lá bởi các loại thuốc nhũ dầu, vì thế không được pha thuốc đậm đặc, nên phun xịt thuốc vào lúc chiều mát.

3. Bệnh cháy lá do nấm Helminthosporium rostratum.

Bên dưới chóp lá có các đốm úng nước, lan dần vào bên trong lá làm lá bị nâu và khô, bệnh nặng cuống lá bi héo mềm và rụng.

– Phòng trừ: gom đốt những lá bị bệnh hạn chế sự lây lan. Sử dụng thuốc gốc Carbendazim, Kitazin 50 ND.

4. Bệnh phấn trắng do nấm Oidium caricae.

Mặt dưới lá bị đóng phấn màu trắng, nếu nhiễm nặng lá sẽ phát triển kém. Trên trái cũng bị các đốm phấn trắng tròn hay hình bầu dục và phát triển kém.

Phòng trừ: gom đốt những lá bị bệnh hạn chế sự lây lan. Sử dụng thuốc Carben 50 WP, Tungsin-M 72WP,…

5. Bệnh đốm lá: do nấmPhyllosticta sulata.

Vết bệnh có hình tròn, hình trứng hoặc thon dài hay bất dạng. Giữa vết bệnh có màu bạc trắng viền vàng hay nâu, vùng bệnh khô mỏng dần và rách đi.

Biện pháp phòng trừ: tiêu huỷ những cành lá bị bệnh, nếu bệnh nhiều sử dụng thuốc: Carbenzim 50WP, Ridozeb 72 WP,….

6. Bệnh thối gốc: do nấm Pythium spp gây hại nặng vào đầu mùa mưa, bệnh làm lá cây bị vàng, rũ xuống và trái cũng bị rụng. Gốc bị thối cây ngã ngang, chết. Bệnh lan dần xuống rễ làm rễ cây bị chết.

Phòng trừ:

– Đất cao ráo, thoát nuớc tốt, không phủ rơm, xác bã thực vật sát gốc.

– Thu gom và tiêu huỷ những cây bị nặng tránh nguồn nấm phát triển

– Sử dụng thuốc: Ridomil 68WP, ,…

Lưu ý: đu đủ rất dễ bi cháy lá do các loại thuốc phòng trị sâu bệnh có tính nhũ dầu, nên phun thuốc vào buổi chiều mát và sử dụng liều luợng đúng theo hướng dẫn trên nhãn thuốc./. Không nên sử dụng thuốc trừ nhện Comite 73EC sẽ là cho lá đu đủ bị cháy.

Loading...

ĐỂ LẠI LỜI NHẮN

Please enter your comment!
Please enter your name here