Trang chủ Tài liệu nuôi, trồng thủy sản Giới thiệu Những Phương Pháp Nuôi Cá Ở Miền Núi

[Sách] Giới thiệu Những Phương Pháp Nuôi Cá Ở Miền Núi

116
0

Giới thiệu Những Phương Pháp Nuôi Cá Ở Miền NúiTên sách: Giới thiệu Những Phương Pháp Nuôi Cá Ở Miền Núi
Tác giả: Lương Thanh Bình (tuyển soạn)
Nhà xuất bản: Văn Hoá Thông Tin
Năm xuất bản: 2003
Số trang: 75
Từ khóa chính: nuôi cá miền núi, cá chép, cá mè, cá trắm, cá trôi Ấn Độ, cá rô phi, cá trê, nuôi cá ruộng, nuôi cá ao, hệ VAC, nuôi cá lồng, ương nuôi cá giống

Tải về

Cuốn sách “Giới thiệu Những Phương Pháp Nuôi Cá Ở Miền Núi” của Lương Thanh Bình tuyển soạn, là tài liệu hướng dẫn các kỹ thuật nuôi cá phổ biến tại vùng miền núi. Sách cung cấp kiến thức về đặc tính sinh học của các loài cá nuôi kinh tế, các loại thức ăn, và chi tiết các phương pháp nuôi cá ruộng, nuôi cá ao (trong hệ VAC, nước tĩnh, nước chảy) và nuôi cá lồng. Cuốn sách còn đặc biệt nhấn mạnh kỹ thuật ương nuôi cá hương, cá giống, giúp người dân miền núi khai thác hiệu quả tiềm năng thủy sản.

Nội dung chính:

Phần I: Giới thiệu đặc tính của một số loài cá nuôi phổ biến

Phần này giới thiệu chi tiết về đặc tính sinh học, thói quen ăn uống, tốc độ sinh trưởng và tầm quan trọng kinh tế của 6 loài cá phổ biến trong nuôi trồng:

  1. Cá chép: Ăn đáy, ăn giun, ốc, ấu trùng, côn trùng, phù du động vật và thức ăn nhân tạo. Lớn nhanh (0.4-0.6kg/năm), đẻ tự nhiên và nhân tạo dễ dàng. Thường chiếm 10% trong đàn cá nuôi ghép.
  2. Cá mè:
    • Cá mè trắng: Sống tầng mặt và giữa, ăn chủ yếu thực vật phù du (60-70%), ăn thêm bột mịn. Lớn nhanh (0.5-1kg/năm), thường chiếm 40-50% trong đàn cá ghép. Không đẻ tự nhiên, cần tiêm kích dục tố để sinh sản nhân tạo.
    • Cá mè hoa: Sống tầng trên, ăn chủ yếu động vật phù du (60%). Phổ thức ăn hẹp, chiếm tối đa 5% trong đàn ghép. Lớn nhanh (1-2kg/năm ở ao, 20-30kg/3-4 năm ở hồ chứa).
    • Cá mè Vinh: Ăn tạp (động vật nổi, rau, bèo, cỏ non). Thịt ngon nhưng chậm lớn (0.2-0.5kg/năm). Có thể bổ sung thay thế mè hoa khi thiếu.
  3. Cá trắm:
    • Cá trắm cỏ: Ăn thực vật là chính (bèo, rong, cỏ nước, cỏ cạn). Được mệnh danh là “con trâu nước”. Ăn cả bột và thức ăn viên. Lớn nhanh (300-400g/năm đầu, 1.5-2kg/năm thứ 2). 40kg cỏ tăng 1kg cá trắm cỏ và 0.6kg cá khác.
    • Cá trắm đen: Sống tầng đáy, ăn động vật là chính (ấu trùng, cá con, tôm tép, ốc). Được gọi là “trắm ốc”. Lớn nhanh (0.6-1kg/năm đầu, 4-6kg/năm thứ 2), có thể nặng tới 40kg ngoài tự nhiên. Thịt thơm ngon đặc biệt, xếp đầu bảng cá nước ngọt về chất lượng.
  4. Cá trôi Ấn Độ: Ăn tạp (mùn bã hữu cơ, sinh vật phù du, thực vật thủy sinh, cám, bột ngũ cốc). Dễ nuôi, chịu được nhiệt độ rộng (12-43°C) và độ mặn (tới 15%). Lớn nhanh (0.6-1.2kg/năm đầu). Chiếm 20-50% trong đàn cá nuôi ghép.
  5. Cá rô phi: Sống tầng giữa và đáy, ăn tạp (mùn bã hữu cơ, phân hữu cơ, bèo tấm, bèo dâu, tinh bột). Thích hợp ao nhỏ, mắn đẻ (nhiều lứa/năm, con cái ngậm trứng bảo vệ con). Hiện nay dùng công nghệ di truyền tạo rô phi đơn tính để tránh sinh sản quá mức.
  6. Cá trê: Sống tầng đáy, ăn động vật phù du (khi nhỏ), giun, côn trùng, tôm, tép, cá con, xác bã động vật thối rữa và bột ngũ cốc. Sống được trong môi trường khắc nghiệt (nước thối, thiếu oxy, pH thấp). Có thể nuôi thêm cám gạo, ngô (70%) và cá tạp (30%). Có các loại trê đen, trê phi, trê vàng, trê trắng.

Một số loại thức ăn nuôi cá:

Phần này phân loại thức ăn cho cá thành:

  1. Thức ăn tự nhiên: Sinh vật phù du, sinh vật đáy, chất mùn từ xác sinh vật. Tảo là thức ăn điển hình. Để tăng nguồn này, cần bón phân chuồng (ủ kỹ), phân bắc, phân xanh, đạm, lân.
  2. Thức ăn nhân tạo: Thức ăn tinh (cám, bã đậu) và thức ăn thô (phân chuồng, cây cỏ). Có thể chế biến thức ăn hỗn hợp.

Phần II: Một số phương pháp nuôi cá phổ biến

Phần này trình bày chi tiết các kỹ thuật nuôi cá khác nhau, phù hợp với điều kiện miền núi:

I. Kỹ thuật nuôi cá ruộng:

Là phương pháp truyền thống ở miền núi phía Bắc, kết hợp nuôi lúa và nuôi cá.

  1. Lợi ích: Tăng thu nhập (lúa + cá), cá ăn sâu bọ hại lúa, sục bùn diệt cỏ, thải phân làm tốt lúa. Lúa được bón phân cũng bổ sung thức ăn cho cá. Cá ăn thóc rơi vãi, rơm rạ khi thu hoạch.
  2. Chuẩn bị ruộng nuôi cá:
    • Chọn ruộng: Ruộng bậc thang dốc/hẹp/nông (ít màu mỡ); ruộng dọc khe (nước mạch, đất màu mỡ); ruộng lớn (nước khe suối/thủy lợi, đất màu mỡ). Cần ruộng chủ động nước, không quá chua (kiểm tra bằng bã trầu hoặc giấy quỳ).
    • Chuẩn bị: Tu bổ bờ ruộng chắc chắn (cao 0.5m, rộng 0.7-0.8m). Làm 1-2 chuôm (2-5m²) giữa hoặc góc ruộng, sâu 1m, có khe hở cho nước luân chuyển. Hệ thống mương rãnh và chuôm chiếm 5-10% diện tích ruộng. Có cống dẫn nước vào/ra với đăng chắn cá, rãnh tràn phòng lũ.
  3. Dọn ruộng: Tháo cạn, bón vôi (10-12kg/100m² hoặc 20-24kg nếu đất chua), bón lót phân chuồng (40-100kg/100m²).
  4. Thời gian thả cá: Sau khi cấy lúa 15-20 ngày, hoặc sau 1 tháng đối với lúa gieo vãi.
  5. Loài cá nuôi: Trôi Ấn Độ, rô phi, chép, trắm cỏ, mè Vinh.

Gửi phản hồi